Từ thời Hán, việc tang lễ đã có những nghi thức cầu kỳ, phức tạp và bày tỏ được những ý niệm ban sơ của con người thuở ấy đối với cái chết. Các nhà khảo cổ đã khai quật mộ Hán Mã Vương Đôi và mộ Hán Mãn Thành, cho ra nhiều kết quả nghiên cứu. Trong đó, cả hai khu mộ này đều có phương pháp đặc biệt bảo toàn hài cốt chặt chẽ, cho thấy con người coi trọng trạng thái cơ thể sau khi chết.
Đạo giáo là một tôn giáo cố hữu của Trung Hoa, dần hình thành vào thế kỷ thứ hai Công Nguyên và trong quá trình thực hành các nghi thức, đạo sĩ đặt sự chú trọng trọng yếu về việc cứu độ. Sự cứu độ ấy không chỉ tập trung vào cá nhân, gia đình, xã hội trên thế giới này mà còn mở rộng cho tổ tiên nhiều đời, thậm chí tất cả linh hồn đã khuất. Trong giai đoạn đầu, Đạo giáo xuất hiện một quan niệm về “Thái Âm luyện hình” - một phương thức cứu độ, luyện hóa sau khi chết.
Thiên Sư Đạo thời kỳ đầu đã ngầm đưa vào các khái niệm “luyện hình”. Trong số đó, Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú được coi là tác phẩm kinh điển của Thiên Sư Đạo xuất hiện vào thế kỷ thứ ba, đã có khái niệm “Thái Âm luyện hình”. “Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú” có đoạn: “太陰,道積練形之宮也。世有不可處,賢者避去,託死過太陰中,而復一邊生像,沒而不殆也。俗人不能積善行,死便真死,屬地官去也” - Thái Âm là cung khuyết nơi Đạo luyện hình. Trần thế chẳng còn nơi nào, hiền giả lánh đi, chết về trong Thái Âm, lại phục nhất sinh tượng, biến mất chẳng chết. Kẻ tục nhân không tích điều thiện, chết thời thuộc Địa Quan. Lại nói: “道人行備,道神歸之。避世託死,過太陰中,復生去,為不亡,故壽也。俗人無善功,死者屬地官,便為亡矣” - Đạo nhân đã hành đủ thời Đạo Thần quay về. Rời thế sau khi chết đến nơi Thái Âm, phục sinh lại, là chẳng chết, cho nên gọi là “thọ” vậy. Tục nhiên không có thiện công, chết thuộc Địa Quan, cho nên gọi là vong vậy!
Vốn hai từ “Thái Âm” đã được “Thái Bình Kinh” sử dụng với tư cách là quan phủ địa hạ (隨疏之者眾多,事事相關,更及(及更)明堂,拘校前後,上其姓名,主者任錄。如過負輒白司官,司官白於太陰。太陰之吏取召家先,去人考掠治之). Trong “Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú”, Thái Âm trở thành nơi tích lũy công đức tu hành, không phải là nơi thuộc về người sau khi chết. Tục nhân sau khi chết phải quy thuộc đến Địa Quan, và sự khác biệt ở nơi lệ thuộc sau khi chết quyết định sự khác biệt giữa “chân tử - cái chết thật sự” và “giả tử - cái chết giả tạm”, cũng là sự khác nhau giữa đạo và tục. Đối với những đạo sĩ hành công viên mãn, đến Thái Âm cung phục hình, trở thành bất tử.
Kinh điển của Thiên Sư Đạo tiếp tục quan điểm này, trong “Lão Quân Thuyết Nhất Bách Bát Thập Giới”, Lão Quân nói: “人生雖有壽萬年,不持戒律,與瓦石何異?寧一旦持戒,終身為道德之人而死,不犯惡而生。持戒而死,滅度練形,上備天官,尸解昇仙。” - Nhân sinh dù có tuổi thọ vạn năm, nhưng nếu không giữ giới thì có gì khác hòn đất nung? Cho nên trì giới, đến chết vẫn là kẻ đạo đức chẳng phạm điều ác. Kẻ trì giới, diệt độ luyện hình, thăng lên đến nơi Thiên Quan, thi giải thành tiên”. Điều kiện để được thành tiên là tuân thủ giới luật. Có thể thấy, giới đạo sĩ không phải chuộng sống đời sống mãi ở thế gian này, mà cốt là đắc Đạo thành Tiên - hoà cùng Đại Đạo. Theo đó, đối với những đạo sĩ tuân theo giới luật, cái chết của là hình thức để đi đến bước “luyện hình” để trở thành bất tử, phù hợp với “Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú”.
Ý tứ về “Thái Âm luyện hình” trong “Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú” thể hiện sự chọn lựa tích cực đối với hiền giả, trong khi “Lão Quân Thuyết Nhất Bách Bát Thập Giới” có xu hướng khái quát hóa đối với giới đạo sĩ, yêu cầu tuân theo giới luật Đạo giáo. Cái chết theo đó không phải là sự mất đi như cách nhìn nhận thông thường mà là một hình thức chuyển đổi sang cõi cao hơn. Họ tiếp tục luyện hình sau đó thi giải thành tiên.
“Chính Nhất Thiên Sư Cáo Triệu Thăng Khẩu Quyết” đời Đông Tấn có thể đại diện cho Tân Thiên Sư Đạo xuất hiện thông qua sự kế thừa của Vương Trường và Triệu Thăng. Trong đó cũng phản ánh được quan niệm về luyện hình, nhưng được kết hợp với tư tưởng thái bình. Khẩu quyết nói rằng dù kẻ có tên trong “Thái Huyền Tử Bộ” thì sau khi chết đi vẫn phải qua Thổ Hộ, hồn phách về Tử Phủ, chờ thời thái bình đến, hồn phách trở lại thân xác, xương trắng được phục sinh, khí huyết được canh lưu, thân hình khôi phục cùng hồn thần kết hợp. Lúc đó, đưa ra “Cửu Quang Vạn Xưng Sinh Phù”, tức có thể không bị Tam Quan khảo phạt, cùng vị thái bình thánh quân mà giáng lâm vào thời thái bình.
Quan niệm “luyện hình” của Thiên Sư Đạo cũng có thể được nhận thấy trong “Xích Tòng Tử Chương Lịch”. Trong đó có “Thượng Thanh Ngôn Công Chương” có nét tương đồng với tư tưởng của “Lão Tử Tưởng Nhũ Chú”, phó thác mệnh mình sau khi chết nơi Thái Âm để thụ luyện canh sinh. Chương này có đoạn: “仰受太陽之恩,謬蒙師道之澤,賜署治籙,進叨老君道德五千文尊經、洞神、洞玄、洞淵、洞真等法,奉受之日,要當供養寶文,修功立德,行合神仙,長生度世,永壽無極,縱不得仙度,託命太陰,受煉更生,化為真人,免脫三塗。” - Đại để là ngưỡng thụ ân Thái Dương, lại nhận ân lành của thầy, được Lão Quân Đạo Đức năm ngàn từ, Đỗng Thần, Đỗng Huyền, Đỗng Uyên, Đỗng Chân các pháp, phụng thụ hôm nay, cốt yếu thường cung dưỡng linh văn, tu công lập đức, hành hợp lẽ thần tiên, trường sinh độ thế, thọ cùng vô cực, giả như không đắc được tiên độ, thác mệnh ở Thái Âm, thụ luyện canh sinh hóa thành chân nhân, mãi thoát Tam Đồ. Ở đây, sự trường sinh độ thế là lý tưởng cao nhất, nếu không đạt được mục tiêu này, sau khi thác mệnh thuộc Thái Âm, được thụ luyện canh sinh và trở thành chân nhân, tránh rơi vào ác đồ.
Ở một chương khác, “Vi Vong Nhân Thủ Hối Thục Tội Giải Trích Chương” đề cập rằng: “謹請〈太玄真符〉,攝下 "女青詔書",地下二千石、丘丞、墓伯、十二塚神、泰山二十四獄、中都大獄、天一北獄、皇丘天九平獄、天地水三官、河侯、河伯、將佐、掾吏等一切,放某等魂魄,使還附尸骨,免離囚徒困苦之中,得上屬天曹和樂之地。斷絕殃注,滅除死籍。” - Cẩn thỉnh “Thái Huyền Chân Phủ”, nhiếp hạ “Nữ Thanh Chiếu Thư” địa hạ nhị thiên thạch, Khâu Thừa, Mộ Bá, mười hai Trủng Thần, Thái Sơn hai mươi tư ngục, Trung Đô Đại Ngục, Thiên Nhất Bắc Ngục, Hoàng Khâu Thiên Cửu Bình Ngục, Thiên Địa Thủy Tam Quan, Hà Hầu, hà Bá, Tướng Tá duyệt lại xin cho hồn phách hoàn phục thi cốt, rời xa tù đổ khốn khổ được thăng thiên tào an vui. Có thể thấy, đoạn này dùng “Thái Huyền Chân Phù” và “Nữ Thanh Chiếu Thư” lệnh xuống các vị thần nơi địa hạ, phóng thích hồn phách người đã khuất, hoàn nơi thi cốt, thăng lên thiên tào. Bản văn đề cập đến quá trình kết hợp thần hồn và thi cốt, việc luyện hình không được nhắc đến trực tiếp, nhưng tư tưởng “hoàn phụ thi cốt” đã ngụ ý hồn thần phải hoàn phụ nơi thi cốt để thăng thiên, có chung ý tứ với các bản văn trên.
Hoặc như trong kinh điển Thượng Thanh, Đào Hoằng Cảnh trong “Chân Cáo” có đề cập đến việc trở thành bất tử sau khi qua Thái Âm. Cụ thể, “Chân Cáo” thuật rằng Bảo Mệnh Quân đã nói về chuyện Hứa Duyện “dưỡng hồn Thái Âm, tàng phách vu địa, tứ linh thủ tinh, ngũ lão bảo tạng”, sau sáu mươi năm phi thăng Đông Hoa, cùng Bảo Mệnh Quân gặp mặt. Không chỉ ghi trong “Chân Cáo”, nơi “Thượng Thanh Cửu Chân Trung Kinh Nội Quyết” cũng nói rằng phàm người tu thân trong Cửu Chân Đạo, trước khi thăng đằng tạm nhập vào Thái Âm. Thân đi qua Tam Quan, Tam Quan chẳng bắt giữ. Lại được “cửu chân triệu hồn, thái nhất thủ hài, tam nguyên hộ khí, thái thượng nhiếp hồn. Cốt nhục bất hủ, ngũ tàng bất vẫn. Năng tử năng sinh, năng âm năng dương. Xuất hư nhập vô, thiên địa câu sinh”. Ngoài ra, Đào Hoằng Cảnh trong “Đăng Chân Ẩn Quyết” cũng nói về Thái Âm luyện hình dựa vào ngũ thạch chi pháp, nhờ pháp này mà: “真人鍊身於大(太)陰,易貌於三官” - Chân Nhân liên kết vào Thái Âm, hình tướng thay đổi vào nơi Tam Quan.
Có thể nói, những quan niệm về cái chết giai đoạn đầu của Đạo giáo đã khá hoàn bị. Chết chưa hẳn là chấm hết, mà còn cả một hành trình đằng đẵng về sau. Sự chết nội hàm trong nó là một lẽ tái sinh vĩnh hằng. Qua đó, những ý niệm này định hướng bước đầu cho những người tu học rằng phải biết cẩn trọng trong từng hành động, lựa chọn đúng đắn, thủ trì những pháp môn cùng giới luật để có thể đạt được những ân ích lành thánh. Bất kể thành quả nào cũng đòi hỏi sự kiền thành cần mẫn và liên lỉ siêng năng, không thể tự nhiên trong phút giây mà toại thành công nghiệp cao dày